Chuyên đề :MỘT SỐ HÌNH THỨC TỔ CHỨC ĐỂ HỖ TRỢ VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN ĐẠT HIỆU QUẢ_ Chấn

Tên chuyên đề :

MT S HÌNH THC T CHC Đ H TR

VIC DY VÀ HC MÔN NG VĂN ĐT HIU QU

I/ Lý do chn chuyên đ:

Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề được quan tâm thường xuyên trong mỗi nhà trường. Đối với môn học Ngữ văn có những nét đặc thù riêng là sự tích hợp giữa ba phân môn : Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn. Xuất phát từ quan điểm này, sách giáo khoa trung học cơ sở, chương trình ngữ văn không xây dựng văn bản theo tiến trình phát triển lịch sử văn học mà chú trọng tích hợp theo quan điểm: từ văn bản hình thành kĩ năng nhận diện, phân tích đánh giá đến hình thành bài làm tiếng Việt và tập làm văn. Sự tích hợp qua lại giữa văn – tiếng Việt – tập làm văn đã giúp cho học sinh có kĩ năng xây dựng văn bản theo thể loại khá, tốt. Hơn nữa, Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn  Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống .

Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói:”Văn học là nhân học” vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn. Thực trạng này lâu nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về hình thức dạy văn và học văn. Xuát phát từ thực tế dạy học tôi chọn đề tài : “Một số hình thức hỗ trợ việc dạy và học ngữ văn đạt hiệu quả.”

II/ Cơ s lý lun :

Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống (Viện Khoa học giáo dục) có nói : ” Đổi mới không thể thay đổi trong chốc lát, không thể làm được ngay, xong ngay, cần có thời gian, điều kiện và sự động viên, sự cố gắng của nhiều người …”. Và ông còn nêu thêm :  ” Cần có sự thay đổi dần, cố gắng làm gì có thể làm được.”

Theo tài liệu tập huấn giáo viên có nêu rõ về chuẩn : “Chuẩn là những yêu cầu tiêu chí tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm lĩnh vực nào đó; đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoạt động, công việc, sản phẩm đó .”

Một người giáo viên dạy văn cần thiết phải tìm cách dạy học phù hợp với phương pháp đặc trưng bộ môn, cần tạo điều kiện để các em phát huy năng lực của mình, tự nói lên tiếng nói của mình. Từ đó học sinh có những hứng thú nhất định và có cảm hứng tốt trong từng giờ học.

III/ Thc trng :

Giáo dục nhiều năm trở lại đây chỉ ra một thực tế đáng buồn là đa số học sinh tỏ ra không hứng thú với những giờ học văn trong nhà trường. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Nỗi ám ảnh từ con đường quá hẹp cho sự lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai, sự bất cập của chương trình và sách giáo khoa, sự nặng nề và cứng nhắc trong thi cử…Nhưng còn một nguyên nhân nữa cũng khá quan trọng là phần lớn giờ dạy văn trong nhà trường chưa thực sự tạo được sức cuốn hút, thậm chí nhàm chán và đơn điệu đối với học sinh. Yêu cầu bức thiết đặt ra là mỗi người thầy tùy theo điều kiện và khả năng thực tế phải tích cực đổi mới hình thức tổ chức sao cho giờ dạy của mình trở nên sinh động, tích cực và tạo được sự hào hứng cho học sinh. Phải đưa giờ ngữ văn từ chỗ tuân thủ theo những quy trình cứng nhắc, răm rắp theo một công thức định sẵn trở thành môi trường mở để thầy và trò tự do trao đổi và sáng tạo, từ đó khơi gợi niềm đam mê học văn cho các em.

Để giải quyết những thực trạng trên, tôi lựa chọ một số hình thức hỗ trợ việc dạy học mà bản thân tôi thấy có hiệu quả :

IV/ Gii pháp :

1/ Áp dụng hình thức tổ chức học tập theo nhóm:

Tổ chức hoạt động theo nhóm không phải là hình thức mới. Nhưng mà trong một tiết dạy làm thế nào để  phát huy được mọi đối tượng tham gia hoạt động  và đạt được hiệu quả  trong việc cùng hợp tác, chia sẻ giải quyết một vấn đề mới là quan trọng. Để tạo hứng thú trong giờ dạy và học tôi làm như sau :

Giáo viên tổ chức lớp thành những nhóm học tập (Giáo viên cần định hướng và chọn ra nhóm trưởng của các nhóm, phân nhóm phù hợp với tình hình của lớp học, chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để sử dụngcũng như phát cho học sinh thực hiện…), giao cho mỗi nhóm một hoặc một số vấn đề (thuộc kiến thức trọng tâm của bài học), quy định về thời gian, cách thức thực hiện và yêu cầu mỗi nhóm tổ chức bàn bạc, thảo luận ở nhà sau đó thống nhất viết thành bài thuyết trình chung cho cả nhóm. Giờ học trên lớp, mỗi nhóm cử một đại diện trình bày bài thuyết trình trước lớp. Thầy tổ chức cho lớp thảo luận, tranh luận xung quanh vấn đề được trình bày và chốt lại những kiến thức cơ bản nhất. Hình thức tổ chức thuyết trình theo nhóm đem lại cho học sinh một cách tiếp cận kiến thức mới lạ và đầy hứng thú. Thông qua thảo luận, các em sẽ được tiếp nhận thông tin đa chiều, mở mang nhiều tri thức mới từ trí tuệ tập thể, điều mà các em không thể có được nếu làm việc một mình. Hơn nữa, thông qua trình bày, thảo luận phương pháp này sẽ rèn luyện cho học sinh những kỹ năng rất cần thiết cho cuộc sống hiện đại như: kỹ năng trình bày một vấn đề, nói trước đám đông, giao tiếp…

Qua việc tổ chức hoạt động nhóm trong giờ dạy tôi nhận thấy học sinh có cơ hội trao đổi với nhau, tự khẳng định mình, cũng như là dịp để các em rèn luyện khả năng diễn đạt, trình bày trước tập thể. Thông qua  hoạt động này, giúp các em mạnh dạn hơn, có thể nói được những điều mình cần nói.

Qua hoạt động nhóm, tôi nhận thấy có sự tương tác giữa học sinh với học sinh trong nhóm, giữa học sinh nhóm này và nhóm khác; sự tương tác giữa thầy và trò làm cho tiết học sôi động hơn. Qua giờ học, học sinh thấy mình làm được và gợi sự thích thú, hiệu quả.

Hình thức tổ chức hoạt động nhóm đa dạng :

* Cùng hợp tác chia sẻ làm bài tập tại nhóm :

V D1:    Ngữ văn 9, bài :  TRAU DỒI VỐN TỪ

– Giáo viên cho học sinh thảo luận trong phần thực hiện các bài tập 7 và 8.

– Giáo viên chia lớp thành 8 nhóm (mỗi tổ 2 nhóm).

– Phát yêu cầu bài tập có ghi sẵn ra phiếu học tập cho học sinh. Tổ 1 và 2 làm bài

tập 7, tổ 3 và 4 làm bài tập 8.

– Học sinh nhận phiếu, tiến hành thảo luận và ghi kết quả ra phiếu học tập.

– Nhóm trưởng điều hành nhóm của mình thực hiện tốt.

– Giáo viên quan sát quá trình hoạt động của học sinh. Có sự nhắc nhở nếu cần

thiết.

– Sau khi các nhóm đã thực hiện xong, giáo viên cho một nhóm ở tổ 1, một nhóm

ở tổ 2 lên bảng thi bằng cách ghi ra bảng các cách giải thích về nghĩa của các từ:

Nhuận bút, thù lao; tay trắng, trắng tay; kiểm điểm, kiểm kê; lược khảo, lược thuật. Sau đó cho các nhóm khác nhận xét, bổ sung. Giáo viên khuyến khích bằng cách

ghi điểm  cho từng cá nhân trong nhóm nếu trả lời tốt.

Tương tự giáo viên cho tổ 3 và 4 lên trình bày bài tập 8.

– Giáo viên nhận xét và chốt lại vấn đề.

* Cùng hoạt động tiếp sức trong nhóm tạo sự nổ lực của cá nhân.

V D 2:  Ngữ văn 8 -tập 1  bài : ÔN TẬP TRUYỆN KÝ VIỆT NAM

Giáo viên làm một bảng tổng kết trong đó chỉ có đề mục và các tiêu chí thống kê(

Tên tác phẩm, tác giả, thể loại, năm sáng tác, phương thức biểu đạt, nội dung chủ yếu, đặc điểm nghệ thuật…)

HS của nhóm lần lượt lên theo thử tự sắp xếp – mỗi HS chỉ ghi được một ô trống theo quy định của GV; HS trong nhóm rời khỏi bục thì HS khác mới lên theo thứ tự sắp xếp của nhóm( HS trong nhóm có quyền điều chỉnh nếu thấy sai – HS điều chỉnh được xem làm phần đó không được làm tiếp ô khác )

Hoạt động này tạo sự thi đua giữa các nhóm, kích thích hoạt động cá nhân. Giáo viên có thể cho điểm cộng cho từng nhóm để động viên các em học tập.

* Cùng hoạt động một chủ đề

V D 3 : Ngữ văn 7 –  Biểu cảm về mẹ

Trong nhóm các em tự phân công chuẩn bị theo từng ý trong dàn bài. Mỗi cá nhân trong nhóm trình bày một ý. Hoạt động này đem lại hiệu quả thiết thực đó là sự hợp tác cao giữa các cá nhân. Qua hoạt động các em tự biết đánh giá, nhìn nhận kết quả qua sự giúp đỡ của giáo viên.

Tóm lại, hình thức hoạt động nhóm tạo cơ hội cho các em học tập, tự nêu được ý kiến, tự bộc lộ năng thực cá nhân của mình… HS dần hứng thú trong học Ngữ văn.

2/ Tổ chức các trò chơi trong dạy học Ngữ văn.

Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên và chủ yếu là vui chơi, giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi. Nhưng qua trò chơi, người chơi còn cần được rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan, tạo cơ hội  giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè trong nhóm, tổ…Đối với học sinh THCS thì hoạt động chơi không còn đóng vai trò chủ đạo, song cùng với học thì chơi là nhu cầu không thể thiếu và nó giữ một vai trò quan trọng đối với các em. Nếu ta biết tổ chức cho học sinh chơi một cách hợp lý, khoa học sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao.

Với mục đích giúp các em vơi đi những căng thẳng trong giờ học; khắc họa, hình thành củng cố tri thức, kĩ năng học tập cho học sinh và tạo cho học sinh sự nhanh nhạy, kĩ năng quan sát, đọc, sử dụng có thẩm mỹ tiếng mẹ đẻ; tạo  điều kiện cho học sinh khám phá, tìm tòi và thể hiện.

Để năng cao chất lượng trong việc tổ chức trò chơi đòi hỏi giáo viên phải tư duy, sáng tạo lựa chọn hình thức chơi cho phù hợp với mục đích, yêu cầu từng bài tập, từng tiết học, rừng đối tượng sao cho đạt được kết qua hoạt động cao nhất. Sau đây là một số hình thức tổ chức trò chơi :

  1. Hình thức: Ai nhanh, ai gii

  Sp xếp t ng theo nhóm (Danh từ – Lớp 6, tập 1)

Sắp xếp từ vào nhóm theo thứ tự cao – thấp (ví dụ: Bác sĩ – y sĩ – y tá)

Y tá

Y sĩ

Bác sĩ

Thạc sĩ

Tiến sĩ

Tú tài

Cử nhân

Thám hoa

Trạng nguyên

Bảng nhãn

Thôn

Xóm

Huyện

Tỉnh

Quốc gia

Phòng

Sở

Bộ

Trung học

Đại học

Cao học

Trạm xá

Bệnh viện

Tổ

Lớp

Trường

………..

V đường biu th quan h trái nghĩa t ct A vi ct B

A B
bắt đầu

yêu

nhớ

mở

đẩy

mua

thức

phá huỷ

làm việc

tích cực

lấy

thờ ơ

khép

bán

xây dựng

kéo

ghét

Quên

kết thúc

nghỉ ngơi

ngủ

tiêu cực

nhiệt tình

đưa

Tìm t ng có nghĩa rng so vi nghĩa ca các t ng mi nhóm đã cho (Bài: “Cấp độ khái quát nghĩa của từ” – Lớp 8)

a, Xăng, dầu hoả, ga, ma dút, củi, than

b, Hội họa, âm nhac, văn học, điêu khắc, điện ảnh

c, Canh, nem, rau xào, thịt luộc, tôm rang, cá rán

d, Sách, bút, thước, mực

e, Súng, đại bác, bom, mìn

Nhóm 1 Nhóm 2 Từ ngữ nghĩa rộng
a

b

c

d

e

  a

b

c

d

e

  a

b

c

d

e

Chất đốt

Nghệ thuật

Thức ăn

Đồ dùng học tập

Vũ khí

Trò chơi đi ch ( Bài: Hoán d – lp 6)

Chia những người tham gia thành 2 đội:

+ Đội A là những người sẽ chuyển thành chữ đã được sắp xếp theo thứ tự a, b, c… sang vị trí những thanh chữ có nghĩa tương ứng được sắp xếp theo thứ tự 1, 2, 3…

+ đội B sẽ chuyển thanh chữ có thứ tự a, b, c…(tức là chuyển về vị trí vốn có của nó trong các câu văn, thơ)

Đội nào nhanh hơn, đúng sẽ thắng

Đi A Đi B
Chồng em (a) nghèo khổ em thương

Chồng người (b) giàu sang phú quý mặc người

Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

(c) Tình cảm lầm chỗ để trên (d) lý trí

Nhận của quá khứ những (e) sự tàn phá kiệt quệ, ta đã làm nên (f) cuộc sống ấm no

(g) ít miệng thì kín, (h) nhiều miệng thì hở

Ra thế! To gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải (i)đàn ông

Làm ruộng (k) rất dễ dàng

Nuôi tằm (l) rất khó

(1) ăn cơm đứng

(2) ăn cơm nằm

(3) những nạn đói, những con đê vỡ

(4) các màu vàng 5T, 7T

(5) áo rách

(6) áo gấm xông hương

(7) đầu

(8) trái tim

(9) chín

(10)    một

(11)    mày râu

  1. Hình thức: Gii ô ch

Trò chơi này giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức của tuần học, tháng học; rèn luyện kĩ năng nhớ, vận dụng kiến thức của các loại văn bản vào giải ô chữ để thực hiện yêu cầu của bài tập; phát huy tư duy nhanh nhạy, sáng tạo của học sinh.

Để thực hiện GV phải chuẩn bị như bảng ô chữ, câu hỏi, đáp án

Giáo viên giao cho cán sự bộ môn đọc lần lượt từng câu hỏi để học sinh xung phong giải ô chữ. Nếu trả lời đúng thì ghi dòng chữ đó lên bảng

V D :   Ô chữ dùng cho bài học: “ Cấp độ khái quát của từ” và bài “Tôi đi học của Thanh Tịnh”.

 

1           T H A Y
2         T R O    
3 B U T T H U O C  
 4         L O P    
5           N V O  
6     B A N G H E  
7     S A C H V O  
8     Đ I H O C    
9 O N G Đ O C      
  1 2 3 4 5 6 7 8 9

Ô chữ hàng ngang là những từ đã được nhà văn Thanh Tịnh sử dụng trong văn bản : “ Tôi đi học” (ngữ văn 8, tập 1)

V D 2/ Dùng cho bài: “Từ tượng hình, từ tượng thanh” (ngữ văn 8, tập 1)

1 N G Ơ N G A C    
2     L E O K H E O
3           B I C H
 4         D U D A Y
5     L A T D A T  
6 C H O N G Q U E O
  1 2 3 4 5 6 7 8 9

Câu hi hàng ngang:

  1. Ô chữ hàng số 1 ( 7 chữ cái ): Từ tượng hình gợi tả dáng vẻ của tên người nhà Lý trưởng khi cai lệ bảo trói anh Dậu lạ
  2. Ô chữ hàng số 2 ( 8 chữ cái ): Từ tượng hình miêu tả dáng vẻ của “ anh chàng nghiện” trong cuộc đánh nhau với chị Dậu
  3. Ô chữ hàng số 3 ( 4 chữ cái ): Từ tượng thanh mô phỏng âm thanh cú đấm của cai lệ vào ngực chị Dậu
  4. Ô chữ hàng số 4 ( 5 chữ cái ): Từ tượng hình cong thiếu trong câu văn: “ Hai người giằng co nhau, [….] nhau rồi ai nấy đều buông gậy ra áp vào vật nhau”
  5. Ô chữ hàng số 5 (6 chữ cái ): Từ tượng hình miêu tả dáng vẻ của bà lão láng giềng khi ở nhà chị Dậu về.
  6. Ô chữ hàng số 6 ( 9 chữ cái ): Từ tượng hình gợi tả dáng vẻ của cai lệ khi bị chị Dậu xô ngã.
  7. Ô chữ hàng dọc ( 6 chữ cái ): Tên nhân vật chính trong tác phẩm “ Tắt đèn” của Ngô Tất Tố? Nêu cảm nhận về nhân vật đó.

3/ T chc gi hc theo mô hình Chương trình phng vn chuyên gia

Giáo viên sẽ giao vấn đề (thuộc kiến thức trọng tâm của bài học), yêu cầu học sinh chuẩn bị kỹ lưỡng ở nhà. Giờ học trên lớp, thầy tổ chức thành một diễn đàn đối thoại, cử ra một học sinh làm phóng viên, một học sinh khác làm chuyên gia (hoặc thầy giáo làm chuyên gia) để phóng viên phỏng vấn chuyên gia về những vấn đề xoay quanh bài học. Những học sinh khác tham gia với tư cách là người đối thoại với chuyên gia. Theo đó, giờ học sẽ trở thành một môi trường để thầy và trò tham gia thảo luận về bài học.

V D:  Bạn hãy cho biết bài thơ ” Nhớ rừng” của Thế Lữ  xuất phát từ cảm nhận nào của tác giả?

Bộ tranh tứ bình về cảnh trong bài thơ” Nhớ rừng” được thể hiện qua những câu thơ nào ? Nếu bạn vẽ, bạn sẽ vẽ những cảnh nào ?

Mô hình dạy học này có ý nghĩa rất lớn trong việc mở ra một môi trường học tập thật sự cởi mở để học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách hết sức thoải mái, chủ động và tích cực. Khoảng cách trong quan hệ thầy – trò thông qua cách học này cũng sẽ được rút ngắn, trở nên vô cùng gần gũi, thân thiết. Sẽ không còn tồn tại quan hệ một chiều theo kiểu thầy độc quyền thuyết giảng, trò nghe theo mà sẽ mở ra một quan hệ mới: quan hệ đối thoại giữa trò với trò, giữa trò với thầy, giữa nhóm này và nhóm khác, gữa nhóm và cá nhân….

          4/ T chc cho hc sinh tranh lun

Đối với một số tiết, đặc biệt là những tiết dạy kỹ năng làm văn, giáo viên có thể áp dụng hình thức tổ chức này. Thầy đưa ra những đề văn mở có thể tạo ra những hướng lựa chọn như ” Tình người ở quê em “; ” em hãy tưởng tượng 20 năm sau ….” ” Thuốc lá là con đường dẫn đến ma túy. Em có đồng ý với nhận định trên không? Vì sao ?…..”

Để tổ chức cho học sinh tranh luận, lớp học được chia thành hai nhóm, mỗi nhóm theo một hướng lựa chọn và tranh luận với nhóm kia để bảo vệ quan điểm của mình. Việc tổ chức tranh luận tạo nên sự hứng thú rất lớn cho học sinh. Thông qua tranh luận trong những giờ học như thế này, học sinh được thể hiện quan điểm của riêng mình, được trình bày những suy nghĩ thực của mình đồng thời đưa ra lập luận để bảo vệ quan điểm ấy mà không chịu ràng buộc, phụ thuộc vào bất cứ một khuôn mẫu, một mô hình nào được áp đặt sẵn. Những giờ học được tổ chức theo kiểu tranh luận sẽ rất tích cực, sôi nổi; phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong tư duy học sinh, đồng thời góp phần định hướng, rèn luyện cho học sinh những khả năng quan trọng: khả năng lập luận, tranh biện, bảo vệ chính kiến… Tổ chức được những giờ học như vậy, người thầy giáo sẽ thực hiện được phương pháp lấy học sinh làm trung tâm.

V/ Kết quả :

Qua việc xây dựng một số hình thức hỗ trợ dạy học, bản thân tôi nhận thấy tiết học sôi động hơn, học sinh ham học hơn; sự tương tác giữa học sinh với học sinh nhiều hơn; các em có thể tự đưa ra ý kiến của mình trược tập thể và xử lí tình huống một cách linh hoạt.

Về phía giáo viên không mất quá nhiều thời gian chuẩn bị, thời gian của tiết dạy mà giáo viên và học sinh vẫn đảm bảo được nội dung kiến thức bài học hình thành được bài tập sách giáo khoa.  Tiết học xuất hiên nhiều  tình huống có vấn đề tao ra sự sinh động và hấp dẫn để giáo viên khắc sâu kiến thức. Từ đó làm cho không khí lớp học thoải mái, kich thích được tin thần học tập của học sinh, đặc biệt với những em sức học yếu, chậm, nhút nhát. Có thể khẳng định các hình thức dạy học trên đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học.

VI/ Kết luận:

Trên đây là một vài suy nghĩ còn mang tính chủ quan tuy có dựa trên thực tế quá trình dạy học và cơ sở lý luận nhưng không tránh khỏi những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện. Tôi rất mong được sự góp ý, trao đổi của các bạn đồng nghiệp,  của tổ chuyên môn để chuyên đề được vận dụng có hiệu qủa

 

Người báo cáo chuyên đề

 

 

 

                                                                                     Lê  Văn Chấn